【HỎI】Đơn xin nghỉ phép tiếng Anh là gì?

Đơn xin nghỉ phép chuẩn bằng tiếng Anh hay Leave of Absence Letter/application for leave là mẫu đơn cần thiết mỗi khi bạn cần xin nghỉ phép một vài ngày vì lý do nào đó như xin nghỉ cưới, xin nghỉ đi du lịch hay giáo viên tiếng Anh cần xin nghỉ việc riêng. Nếu bạn chưa biết cách phải viết đơn nghỉ phép tiếng anh ra sao, hãy tham khảo ngay cách viết đơn xin nghỉ việc tiếng anh theo mẫu dưới đây mà chúng tôi đã soạn thảo.

Đơn xin nghỉ phép tiếng Anh

Leave of Absence Letter

Employee Name:……………………………………………………………………………………………

Employee Address:………………………………………………………………………………………..

Employee Personal Phone Number:……………………………………………………………………

Date:……………………………………………………

Authority Name:……………………………………………………………………………………………..

Authority Department:………………………………………………………………………………………

Name of Organization:……………………………………………………………………………………..

Organization Address:……………………………………………………………………………………..

Subject: Requirement for Leave

Dear Mr. Johnson,

I would like to request a leave of absence, from October 24th to October 26th. . As you many have heard, my brother will be getting married on October 24th and I will need to go home to attend this event. Please let me know if I can provide any further infomation regarding this request.

Thanh you very much for your consideration.

With kind regards,

Hoang Phuong Linh

【Hỏi Đáp】Danh mục thương hiệu là gì?

1.Tại sao cần có Brand Porfolio strategy ?

– Danh mục thương hiệu là tổ hợp tất cả sản phẩm của doanh nghiệp

– Việc phát triển danh mục thương hiệu bằng cách tung ra thương hiệu mới nhằm đáp ứng các phân khúc khác nhau. Ngược lại việc cắt giảm các thương hiệu hoạt động không hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các tổn thất

– Phát triển, bán chéo sản phẩm

– Tạo tiền đề giúp doanh nghiệp lấn sân sang các ngành hàng mới mà ở đó khách hàng loyalty của doanh nghiệp cũng tham gia.

-Khẳng định và củng cố thế mạnh, định vị doanh nghiệp

2.Phạm vi và chiến lược mở rộng thương hiệu

-Nhóm ngành hàng cốt lõi: đang hoạt động tốt và là nền tảng của doanh nghiệp

– Nhóm ngành hàng lân cận: tận dụng thuộc tính sản phẩm từ nhóm ngành hàng cốt lõi

-Nhóm ngành hàng mới: tận dụng giá trị thương hiệu

3 .Yếu tố cần cân nhắc trước khi tham gia nhóm ngành hàng mới

Yếu tố cần cân nhắc trước khi tham gia nhóm ngành hàng mới

-Yếu tố nội lực: của chính doanh nghiệp

– Yếu tố mức độ hấp dẫn của thị trường và xem thị trường đang ở giai đoạn, tình trạng nào

-Yếu tố liên quan đến thương hiệu: có thể tận dụng được sức mạnh thương hiệu có sẵn, hệ thống sản xuất, kênh phân phối

4.Ai sẽ tham gia vào chiến lược xây dựng mở rộng thương hiệu

– Brand team & marketing director

– Research agency

-Operation Team: R&D, purchasing, product…

-Sale & trade marketing

-Finance

-CEO

Ví dụ: Bạn hãy đưa ra một số điều kiện để thể hiện Dove có thể lấn sân vào ngành hàng mỹ phẩm (Out-of-scope)?

Giải đáp: Một số điều kiện để thể hiện Dove có thể lấn sân vào ngành hàng mỹ phẩm (Out-of-scope):

1.Thương hiệu Dove gắn liền với các sản phẩm sữa tắm – chăm sóc tóc, nó là một phần để thể hiện vẻ đẹp mềm mại, quyến rũ của người phụ nữ mà thương hiệu đem lại. Bởi thế Dove có thể lấn sân vào ngành hàng mỹ phẩm dựa trên định vị thương hiệu sẵn có và tìm cách kết nối với nó khi tham gia vào ngành hàng mỹ phẩm.

2.Hệ thống kênh phân phối của Dove hiện tại có thể được sử dụng vào ngành hàng mỹ phẩm

3.Tập khách hàng mà Dove đang sở hữu hiện tại phù hợp với ngành hàng mỹ phẩm

4.Dây chuyền sản xuất cũng phù hợp và thuận tiện để phát triển các sản phẩm mỹ phẩm

5.Phát triển danh mục và các dòng sản phẩm

-Brand

-Platform

-Product line

– 6 cách xác định Platform cho 1 mô hình dòng sản phẩm

+Who: phân theo nhóm đối tượng khách hàng ( độ tuổi, giới tính, địa lý, thu nhập…) , là cách đơn giản nhưng ít được sử dụng nhất.

+What: phân nhóm theo hình thức, định dạng sản phẩm

+Why: phân nhóm theo nhu cầu về tính năng sản phẩm là những lí do, động lực thúc đẩy người tiêu dung mua sản phẩm đó (thể hiện benefits)

+When: thời điểm người tiêu dung sử dụng sản phẩm, bối cảnh tiêu dung, cơ hội sử dụng

+Where: phân nhóm theo địa điểm, kênh tiêu thụ

+How much: phân nhóm theo mức độ giá cả

6.Cách tổ chức và vai trò của các thương hiệu

-House brand: tên tập đoàn sở hữu nhiều thương hiệu, không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng ít tới các thương hiệu họ sở hữu

Ví dụ: P&G, Unilever…

-Individual brand/master brand: thương hiệu chủ đạo của mỗi tập đoàn

Ví dụ: Sunsilk, Clear là master brand của Unilever

-Sub brand: thương hiệu con của một thương hiệu lớn hơn

-Endorsed brand: thương hiệu được bảo trợ, tương lai có thể trở thành 1 master brand đứng độc lập. Trong thời gian đầu, người làm marketing sẽ gắn nó với brand sẵn có để tận dụng sức mạnh của thương hiệu sẵn có.

-Products/variants: tên gọi của nhiều sự lựa chọn khác nhau của 1 brand, 1 sub-brand trong 1 ngành hàng, phân khúc, đối tượng mục tiêu (thường liên quan tới hương vị, tính năng sâu hơn)

Ví dụ: Theo bạn, khác biệt cơ bản giữa Sub-brand và Endorsed Brand là gì?

Khác biệt cơ bản giữa Sub-brand và Endorsed Brand là Sub-brand là thương hiệu con của master brand, đồng nghĩa sản phẩm – định vị của nó phần nào sẽ bị ảnh hưởng bởi master brand. Còn Endorsed brand là thương hiệu được bảo trợ bởi thương hiệu chính, nó sẽ có khả năng tách rời đứng độc lập và thoát khỏi sự ảnh hưởng của master hoặc sub-brand ở những thời điểm nhất định !

7.Chiến lược danh mục thương hiệu

-Cash cow brand: thương hiệu mạnh và có danh tiếng trên thị trường, có nguồn khách hàng trung thành, có thể đem lại doanh số – lợi nhuận.

-Strategic brand: sản phẩm mới tạo ra xu hướng, nguồn doanh thu mới cho công ty.Thường nâng cấp khách hàng từ cash cow brand sử dụng thêm strategic brand

-Silver – bullet brand: thương hiệu thay đổi nhận thức người tiêu dung, thông thường là endorsed brand (thương hiệu được bảo trợ)

-Flanker brand: thương hiệu sinh ra để cản phá đối thủ, không đặt nặng về doanh số – lợi nhuận

【Hỏi Đáp】Cục sở hữu trí tuệ tiếng anh là gì?

Cục sở hữu trí tuệ là gì?

Cục Sở hữu trí tuệ (National Office of Intellectual Property) là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, thực hiện chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ thống nhất quản lý nhà nước và đảm bảo các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành về sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước.

Chức năng

Cục Sở hữu trí tuệ có 19 nhiệm vụ chính. Tuy nhiên có thể khái quát thành 5 nhiệm vụ trọng tâm cơ bản sau:

  • Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về SHTT; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, biện pháp đẩy mạnh hoạt động và phát triển hệ thống SHTT trong phạm vi cả nước;
  • Thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong việc xác lập và bảo vệ quyền SHTT tại Việt Nam cho các tổ chức, cá nhân;
  • Thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về SHTT;
  • Hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ chuyên môn về SHTT cho các cơ quan quản lý SHTT thuộc các Bộ, ngành và địa phương trong cả nước;
  • Thực hiện chức năng bảo đảm các hoạt động sự nghiệp chuyên ngành: tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về SHTT; đào tạo, bồi dương chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học về SHTT; hỗ trợ và tư vấn về thủ tục xác lập, quản lý, sử dụng và chuyển giao, chuyển nhượng giá trị quyền SHTT; xây dựng, quản lý và tổ chức khai thác cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu công nghiệp.

 

【HỎI】Công đoàn tiếng Anh là gì?

Công đoàn là gì?

Công đoàn (nghiệp đoàn, liên đoàn lao động) là “một hiệp hội của những người làm công ăn lương có mục đích duy trì hay cải thiện các điều kiện thuê mướn họ” [1], hoặc là nghiệp đoàn của những người công nhân.

Trải qua 300 năm, các công đoàn phát triển thành nhiều dạng thức, dưới sự ảnh hưởng của các thể chế chính trị và kinh tế. Mục tiêu và hoạt động cụ thể của các công đoàn có khác nhau, nhưng thường bao gồm:

Cung cấp lợi ích dự phòng: Các công đoàn thời xưa, như các Hội Ái hữu (Friendly Societies), thường cung cấp nhiều lợi ích để bảo trợ cho các thành viên trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tuổi già hay chết. Ngày nay, ở các nước phát triển, những chức năng này được coi là thuộc về nhà nước, nhưng những quyền lợi khác như đào tạo huấn luyện, tư vấn và đại diện về luật pháp vẫn còn là những lợi ích quan trọng đối với thành viên công đoàn.

Thương lượng tập thể: Ở các nước mà công đoàn có thể hoạt động công khai và được giới chủ thừa nhận, các công đoàn có thể thương lượng với chủ thuê mướn lao động về lương bổng và các điều kiện làm việc.

Hành động áp lực: Các công đoàn có thể tổ chức đình công hay phản đối để gây áp lực theo những mục tiêu nào đó.

Hoạt động chính trị: Các công đoàn có thể tác động đến những luật lệ có lợi cho toàn thể giới lao động. Họ có thể tiến hành những chiến dịch chính trị, vận động hành lang hay hỗ trợ tài chính cho những cá nhân hay chính đảng ứng cử vào các vị trí công quyền.

Cấu trúc và đời sống chính trị

Cấu trúc và đời sống chính trị

Các công đoàn có thể tổ chức dựa trên một nhóm công nhân có cùng kỹ năng (chủ nghĩa công đoàn nghề nghiệp), những công nhân thuộc các ngành nghề khác nhau (chủ nghĩa công đoàn toàn thể), hay các công nhân trong toàn bộ một ngành công nghiệp (chủ nghĩa công đoàn ngành). Các công đoàn này thường phân chia theo địa phương và thống nhất với nhau thành các nghiệp đoàn quốc gia. Các nghiệp đoàn này lại liên kết với nhau thành các tổ chức quốc tế, kiểu như Liên hiệp Công đoàn Tự do Quốc tế (International Confederation of Free Trade Unions).

Ở nhiều quốc gia, một công đoàn có thể có được vị thế của một pháp nhân, được ủy quyền thương lượng với giới chủ thay cho các công nhân mà nó đại diện. Trong một vài trường hợp, các công đoàn có một số quyền hợp pháp nào đó mà quan trọng nhất là quyền thương lượng một cách tập thể với người thuê mướn lao động về lương bổng, giờ làm cũng như các điều kiện thuê lao động khác. Việc hai bên không thể đạt đến một thỏa thuận nào đó có thể dẫn đến những hành động gây áp lực, đỉnh điểm là đình công hay đóng cửa nhà máy không cho công nhân vào làm. Trong một số trường hợp cực đoan, từ những sự này có thể nảy sinh bạo lực hay nhiều hành vi bất hợp pháp.

Trong nhiều cảnh huống khác, các công đoàn có thể không có quyền đại diện hợp pháp cho công nhân, hoặc quyền này bị đặt vấn đề. Sự thiếu vị thế của công đoàn có thể ở mức độ không được thừa nhận cho đến việc truy tố các nhà hoạt động công đoàn như tội phạm, đã có nhiều vụ việc bạo động hay chết người được ghi nhận trong lịch sử cũng như ngày nay.

Các công đoàn có thể tham gia vào cuộc đấu tranh chính trị hay xã hội rộng lớn hơn. Chủ nghĩa công đoàn xã hội bao gồm nhiều công đoàn có thể dùng sức mạnh quốc tế để ủng hộ cho những chính sách và luật lệ xã hội có lợi cho thành viên của chúng hay cho toàn thể giới công nhân. Các công đoàn ở nhiều nước cũng kề vai sát cánh với các chính đảng.

Cũng có thể mô tả các công đoàn dựa theo mô hình phục vụ hay mô hình tổ chức. Công đoàn theo mô hình phục vụ tập trung hơn vào việc duy trì quyền lợi cho công nhân, cung cấp những dịch vụ và thu xếp những bất đồng. Trong khi đó, mô hình tổ chức thường có những nhà tổ chức làm việc toàn thời gian, họ lo xây dựng nên niềm tin, những mạng lưới và những nhà lãnh đạo mạnh mẽ trong lực lượng lao động cũng như những chiến dịch chống đối tập hợp rất nhiều thành viên công đoàn. Có nhiều công đoàn pha trộn giữa hai triết lý này, và định nghĩa về hai mô hình vẫn còn được tranh cãi.

Mặc cho những cấu trúc chính trị và tính tự trị rất khác biệt với nhau, lãnh đạo công đoàn thường được bầu lên một cách dân chủ.

Nhiều kết quả nghiên cứu, như của Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Quan hệ Công nghiệp Úc Đại Lợi (ACIRRT), cho thấy công nhân có tham gia công đoàn được hưởng lương và chế độ tốt hơn những người không tham gia.

Công đoàn tiếng Anh là gì?

  • Công đoàn trong tiếng Anh là: trade union; labor union
  • Công đoàn phát động đình công trong bốn nhà máy của công ty
    The union is striking four of the company’s plants
  • Lập / gia nhập công đoàn
    To form/join a trade union
  • Những công nhân chưa gia nhập công đoàn
    Non-union workers
  • Công đoàn vẫn còn tín nhiệm ông ấy
    He still has credit with the trade unions
  • Thành viên của công đoàn
    Trade union member; labor union member; union member; Trade-unionist
  • Công ty có tổ chức công đoàn
    Closed shop; Union shop

【HỎI】Chi cục thuế tiếng Anh là gì?

Tổng cục Thuế (tên giao dịch tiếng Anh: General Department of Taxation) là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về các khoản thu nội địa trong phạm vi cả nước, bao gồm: thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác của ngân sách nhà nước (gọi chung là thuế); tổ chức quản lý thuế theo quy định của pháp luật.

Lịch sử

Chi cục thuế

Chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 27/SL đặt ra Sở Thuế quan và thuế gián thu (trực thuộc Bộ Tài chính) dưới quyền điều khiển của một Tổng giám đốc được bổ nhiệm bằng sắc lệnh theo đề nghị của Bộ trưởng bộ Tài chính. Trong cùng ngày, Chính phủ ra sắc lệnh bổ nhiệm ông Trịnh Văn Bính, Giám đốc Sở thương chính Bắc kỳ làm Tổng giám đốc.

Để tách biệt với ngành hải quan, ngày 25/3/1946 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 210-TC thành lập Nha Thuế trực thu Việt Nam (trực thuộc Bộ Tài chính) có nhiệm vụ nghiên cứu, đề nghị thi hành và kiểm soát các công việc liên quan đến các loại thuế trực thu (thuế điền thổ, thuế thổ trạch, thuế môn bài, thuế lương bổng, thuế lãi doanh nghiệp, thuế lợi tức tổng hợp). Ở mỗi kỳ có Nha thuế trực thu cấp kỳ; ở mỗi tỉnh có phòng thuế trực thu.

Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II (2/1951), Chính phủ đã ban hành hệ thống chính sách thuế mới, chủ yếu là thuế nông nghiệp và thuế công thương nghiệp. Ngày 14/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 55/NĐ thành lập Vụ Thuế Nông nghiệp (trực thuộc Bộ Tài chính) với nhiệm vụ xây dựng và tồ chức chỉ đạo, quản lý thu thuế nông nghiệp. Ở các liên khu, tỉnh, huyện, cơ quan tài chính trực tiếp phụ trách công tác chỉ đạo, quản lý thu thuế nông nghiệp trên địa bàn.

Ngày 17/7/1951, Bộ Tài chính đã ban hành nghị định số 63/NĐ thành lập hệ thống tổ chức ngành thuế công thương nghiệp bao gồm:

+ Ở trung ương: Tổng cục Thuế (Trực thuộc Bộ Tài chính).

+ Ở tỉnh: Cục thuế.

+ Ở tuyến có hoạt động xuất nhập khẩu lớn: Chi sở thuế xuất nhập khẩu.

+ Ở huyện, thị xã: Chi Cục Thuế

Sở thuế trung ương có nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện việc quản lý với mọi loại thuế (trừ thuế nông nghiệp và thuế trước bạ).

Ngày 7/8/1990, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành nghị định số 218-HĐBT về việc thành lập ngành thuế nhà nước được hợp nhất từ 3 hệ thống tổ chức: Thu quốc doanh, thuế công thương nghiệp, thuế nông nghiệp, thực hiện sự đổi mới cơ bản về hệ thống tổ chức thống nhất,kiện toàn bộ máy, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, bảo đảm các mục tiêu cải cách hệ thống thuế mới với hiệu quả cao nhất. Ngành thuế nhà nước được tổ chức qua 3 cấp từ tổng cục thuế, cục thuế đến chi cục thuế; được xác định rõ quyền hạn trách nhiệm và sự phân công cụ thể hợp lý giữa cơ quan thuế ngành dọc cấp trên và chính quyền từng cấp trong tổ chức lãnh đạo chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh chính sách thuế chung cả nước và trên địa bàn lãnh thổ theo nguyên tắc song hành lãnh đạo.

Lãnh đạo Tổng cục Thuế hiện nay

  • Tổng cục trưởng: Bùi Văn Nam
  • Phó Tổng cục trưởng: Trần Văn Phu
  • Phó Tổng cục trưởng: Đặng Ngọc Minh
  • Phó Tổng cục trưởng: Vũ Văn Trường
  • Phó Tổng cục trưởng: Cao Anh Tuấn
  • Phó Tổng cục trưởng: Phi Vân Tuấn
  • Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Đại Trí
  • Phó Tổng cục trưởng: Nguyễn Thế Mạnh

Cơ cấu tổ chức

Theo điều 3, Quyết định số 115/2009/QĐ-TTg ngày 28/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ thì Tổng cục Thuế được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính, bảo đảm nguyên tắc tập trung thống nhất:

Cơ quan Tổng cục Thuế ở Trung ương

  • Vụ Chính sách
  • Vụ Pháp chế
  • Vụ Dự toán thu thuế
  • Vụ Kê khai và Kế toán thuế
  • Vụ Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế
  • Vụ Quản lý thuế thu nhập cá nhân
  • Vụ Quản lý thuế doanh nghiệp lớn
  • Vụ Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế
  • Vụ Hợp tác quốc tế
  • Vụ Kiểm tra nội bộ
  • Vụ Tổ chức cán bộ
  • Vụ Tài vụ – Quản trị
  • Văn phòng (có đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh)
  • Thanh tra
  • Cục Công nghệ thông tin
  • Trường Nghiệp vụ thuế
  • Tạp chí Thuế.

Các tổ chức quy định từ điểm a đến điểm p khoản 1 Điều này là các tổ chức hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước; các tổ chức quy định tại điểm q và điểm r là tổ chức sự nghiệp.

Cơ quan Thuế ở địa phương

Cục Thuế cấp tỉnh, Chi cục Thuế cấp huyện có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước theo quy định của pháp luật.

Cục Thuế ở TP.Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh

Cục Thuế thành phố Hà Nội và Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh có không quá 06 Phòng Kiểm tra thuế; 04 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù, có phạm vi kinh doanh liên quan đến nhiều địa bàn tỉnh, thành phố. Phòng Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế;

  • Phòng kê khai và Kế toán thuế;
  • Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;
  • Một số phòng Kiểm tra thuế;
  • Một số phòng Thanh tra thuế;
  • Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân;
  • Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán;
  • Phòng Pháp chế;
    Phòng Kiểm tra nội bộ;
  • Phòng Tổ chức cán bộ;
  • Phòng Hành chính – Lưu trữ;
  • Phòng Quản trị – Tài vụ;
  • Phòng Quản lý ấn chỉ;
  • Phòng Tin học.

Cục Thuế ở các tỉnh, thành phố khác

Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 3.000 tỷ đồng trở lên trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế trên 2.000 doanh nghiệp, được tổ chức không quá 03 Phòng Kiểm tra thuế và 02 Phòng Thanh tra thuế, trong đó có 01 Phòng Thanh tra thuế đối với doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp có tính chất đặc thù.

Cục Thuế tỉnh, thành phố có số thu hàng năm từ 1.000 tỷ đồng đến dưới 3.000 tỷ đồng trừ thu từ dầu thô và tiền thu về đất, hoặc quản lý thuế từ 2.000 doanh nghiệp trở xuống, được tổ chức không quá 02 Phòng Kiểm tra thuế và 01 Phòng Thanh tra thuế.

  • Phòng Tuyên truyền – Hỗ trợ người nộp thuế;
  • Phòng Kê khai và Kế toán thuế;
  • Phòng Quản lý nợ và Cưỡng chế nợ thuế;
  • Một số Phòng Kiểm tra thuế;
  • Một số Phòng Thanh tra thuế;
  • Phòng Quản lý thuế thu nhập cá nhân;
  • Phòng Tổng hợp – Nghiệp vụ – Dự toán;
  • Phòng Kiểm tra nội bộ;
  • Phòng Tổ chức cán bộ;
  • Phòng Hành chính – Quản trị – Tài vụ – Ấn chỉ;
  • Phòng Tin học.

Chi cục Thuế

Chi cục Thuế ở các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Chi cục Thuế cấp huyện) trực thuộc Cục Thuế cấp tỉnh.

GIẢI ĐÁP – By-product là gì?

By-product là gì?

Một sản phẩm phụ (By-product) là một sản phẩm thứ cấp có nguồn gốc từ một quá trình sản xuất hoặc phản ứng hóa học. Nó không phải là sản phẩm chính hoặc dịch vụ được sản xuất. Trong bối cảnh sản xuất , sản phẩm phụ là “đầu ra từ quy trình sản xuất chung không đáng kể về số lượng và / hoặc giá trị thuần có thể thực hiện được (NRV) khi so sánh với các sản phẩm chính”.

Bởi vì chúng được coi là không có ảnh hưởng đến kết quả tài chính được báo cáo, các sản phẩm phụ không nhận được phân bổ chi phí chung . Sản phẩm phụ cũng theo quy ước không được kiểm kê, nhưng NRV từ sản phẩm phụ thường được ghi nhận là “thu nhập khác” hoặc giảm chi phí xử lý sản xuất chung khi sản phẩm phụ được sản xuất.

Một sản phẩm phụ có thể hữu ích và có thể bán trên thị trường hoặc nó có thể được coi là lãng phí. Ví dụ, cám là sản phẩm phụ của quá trình xay bột tinh chế, đôi khi được ủ hoặc đốt để xử lý nhưng trong các trường hợp khác được sử dụng làm thành phần dinh dưỡng trong thực phẩm hoặc thức ăn , và xăng đã từng là sản phẩm phụ của tinh chế dầu mà sau này trở thành một sản phẩm được mong muốnnhư nhiên liệu động cơ .

IEA định nghĩa “sản phẩm phụ” trong bối cảnh đánh giá vòng đời : “… sản phẩm chính, sản phẩm đồng (liên quan đến doanh thu tương tự sản phẩm chính), sản phẩm phụ (dẫn đến doanh thu nhỏ hơn) và lãng phí sản phẩm (cung cấp ít hoặc không có doanh thu). ”

Trong khi một số nhà hóa học coi “sản phẩm phụ” và “sản phẩm phụ” là từ đồng nghĩa theo nghĩa trên của sản phẩm thứ cấp chung (không nhắm mục tiêu), thì những người khác lại thấy hữu ích khi phân biệt hai sản phẩm này. Khi hai thuật ngữ được phân biệt, “sản phẩm phụ” được sử dụng để chỉ một sản phẩm không mong muốn nhưng chắc chắn là kết quả từ các phân tử của nguyên liệu ban đầu và / hoặc thuốc thử không được tích hợp vào sản phẩm mong muốn, do hậu quả của việc bảo tồn của khối lượng.

Ngược lại, “sản phẩm phụ” được sử dụng để chỉ một sản phẩm được hình thành từ một quá trình cạnh tranh về nguyên tắc có thể bị triệt tiêu bằng cách tối ưu hóa các điều kiện phản ứng.

【HỎI】Báo giá tiếng Anh là gì?

Báo giá là một bản chào giá cố định mà bạn không thể thay đổi khi khách hàng đã chấp nhận, kể cả trong trường hợp bạn làm nhiều việc hơn dự kiến. Trong trường hợp không chắc chắn về khối lượng công việc, bạn nên chuyển cho khách hàng một bản giá ước tính.

Báo giá trong tiếng Anh là gì?

Báo giá: Price quotation, price quote, quote

Cả 3 từ trên đều có nghĩa là “báo giá”. Như vậy chúng ta có khá nhiều từ có thể sử dụng khi đưa ra bảng giá cho khách hàng và tùy ngữ cảnh mà vận dụng sao cho phù hợp.

Một từ khác cũng hay được sử dụng đó là: (Price) estimate – Bản giá ước tính.

Ví dụ:

He called back to say the price quotes were “not accurate.”

=> Anh ta gọi lại để báo rằng bảng báo giá là không chính xác.

You can request a quotation for professional indemnity insurance online.

=> Bạn có thể yêu cầu một bản báo giá online về bảo hiểm bồi thường hành nghề.

Quotation là gì?

Ngoài nghĩa là bảng báo giá, từ quotation còn rất nhiều nghĩa phổ thông khác như:

Sự trích dẫn, đoạn trích dẫn

At the beginning of the book there’s a quotation from Abraham Lincoln.

=> Bắt đầu cuốn sách là một đoạn trích dẫn của Abraham Lincoln.

The title is a quotation from Shakespeare.

=> Tiêu đề là một câu trích dẫn của Shakespeare.

Kinh tế: bảng báo giá, bảng giá thị trường, bảng giá niêm yết ….

Get at least three quotations for the work.

By publishing quotations, the market maker raises the profile of the security.

A quotation on the London market is a logical next step.

Từ vựng khác về tiếng Anh thương mại

Brand: thương hiệu/nhãn hàng
Launch: Tung/ Đưa ra sản phẩm
Transaction: giao dịch
Economic cooperation: hợp tác kinh doanh
Conflict resolution: đàm phán
Interest rate: lãi suất
Bargain: mặc cả
Compensate: đền bù, bồi thường
Claim: Yêu cầu bồi thường, khiếu nại
Concession: nhượng bộ
Cooperation: hợp tác
Conspiracy: âm mưu
Counter proposal: lời để nghị
Indecisive: lưỡng lự
Proposal: đề xuất
Settle: thanh toán
Withdraw: rút tiền
Transfer: chuyển khoản
Conversion: chuyển đổi tiền/chứng khoán
Charge card: thẻ thanh toán
Account holder: chủ tài khoản
Turnover: doanh số, doanh thu
Tax: thuế
Stock: vốn
Earnest money: tiền đặt cọc
Deposit: nộp tiền
Statement: sao kê tài khoản
Foreign currency: ngoại tệ
Establish: thành lập
Bankrupt bust: vỡ nợ, phá sản
Merge: sát nhập
Commission: tiền hoa hồng
Subsidise: phụ cấp
Fund: quỹ
Debt: khoản nợ

GIẢI ĐÁP – Bán thành phẩm tiếng Anh là gì?

Bán thành phẩm nghĩa là gì? Ở đây bạn tìm thấy 2 ý nghĩa của từ Bán thành phẩm. Bạn cũng có thể thêm một định nghĩa Bán thành phẩm mình

Bán thành phẩm là gì?

1. Bán thành phẩm

Là nguyên liệu đã được xử lý một phần, và phải trải qua các xử lý tiếp theo trước khi trở thành thành phẩm 2701/2001/QĐ-BYT

2. Bán thành phẩm

sản phẩm chưa chế tạo xong hoàn toàn, phải qua một vài khâu gia công nữa mới thành thành phẩm.

Bán thành phẩm tiếng Anh là gì?

Bán thành phẩm trong tiếng Anh là: semi-finished products

【HỎI ĐÁP】Ban kiểm soát tiếng Anh là gì?

Ban Kiểm soát (Board of Supervisors) của một công ty có nhiệm vụ giống như các cơ quan tư pháp trong mô hình tam quyền phân lập nhằm giúp các cổ đông kiểm soát hoạt động quản trị và quản lý điều hành công ty.

Cơ cấu Ban kiểm soát

Cơ cấu Ban kiểm soát

Cơ cấu Ban kiểm soát thường bao gồm:

1. Trưởng ban Kiểm soát

2. Thành viên Ban kiểm soát chuyên trách

3. Thành viên Ban kiểm soát không chuyên trách

Việc bầu Ban kiểm soát

Các chức danh của Ban kiểm soát thường có nhiệm kỳ từ 3 – 5 năm trùng với nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị và phải do Đại hội cổ đông bầu ra. Chu trình thực hiện là Đại hội cổ đông bầu ra Ban kiểm soát. Ban kiểm soát bầu các chức danh cụ thể trong nội bộ ban. Thông thường, trong ban, dù ít người cũng phải có ít nhất một thành viên có trình độ chuyên môn về kế toán, kiểm toán.

Thành viên Ban kiểm soát có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.

Các giới hạn về khả năng và đạo đức của thành viên Ban kiểm soát

Thành viên Ban kiểm soát cần có một số điều kiện cốt yếu, thể hiện trong các quy định về tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Ban kiểm soát như:

– Từ 21 tuổi trở lên, có đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp;

– Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng Giám đốc và người quản lý khác. Điểm này sẽ hạn chế các thông đồng hoặc hành vi không chuẩn của thành viên Ban kiểm soát.

– Thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty.

– Thành viên Ban kiểm soát cũng không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của Công ty.

Các quyền hạn và nhiệm vụ của Ban kiểm soát

Các quyền hạn và nhiệm vụ của Ban kiểm soát

Kiểm soát toàn bộ hệ thống tài chính và việc thực hiện các quy chế của công ty: Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.Thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính theo các định kỳ của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị lên Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên.

Xem xét sổ kế toán và các tài liệu khác của Công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của Công ty bất cứ khi nào nếu xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông.

Kiểm tra bất thường: Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông, Ban Kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông và nhóm cổ đông có yêu cầu.
Can thiệp vào hoạt động công ty khi cần: Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.

Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng Cổ đông, Tổng Giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.

Vị thế của Ban kiểm soát trong công ty

Theo các quy chế mới nhất, Ban kiểm soát có vị thế tương đối độc lập và khá cao. Về mô hình, Ban kiểm soát có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Song trên thực tế, Ban kiểm soát còn rất nhiều khó khăn để đạt được vị trí chỉ ngang bằng so với cả Ban giám đốc.

Nguyên nhân của tình trạng này có nhiều, song chủ yếu do các thành viên Ban kiểm soát thường là những người nắm giữ ít cổ phiếu của công ty. Họ gần như không bao giờ là đại cổ đông của công ty.

Đạo luật Sarbanes-Oxley đã xác định vai trò và vị thế mới của Ban kiểm soát, song thực tế để đạt được những điều căn bản như vậy không phải dễ dàng, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam.

Bài thu hoạch nghị quyết trung ương 4 khóa 12 CHUẨN NHẤT

Qua nghị quyết trung ương 4 khóa 12 có thể thấy được những định hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong 5 năm tiếp theo cũng như những chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong những năm tới nhằm đưa Việt Nam tiến lên trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Mời bạn đọc cùng tham khảo chi tiết bài thu hoạch nghị quyết đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng tại đây.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————
BÀI THU HOẠCH
Học tập nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng

Họ và tên: ………………………………………………………………………………………………..

Chức vụ: ………………………………………………………………………………………………….

Đơn vị công tác: ………………………………………………………………………………………..

1. Sau thời gian học tập nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng bản thân tôi thấm nhuần nội dung cơ bản của Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng đó là:

Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Châu Á -Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa – kinh tế – chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt.

Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hoà bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…..

Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ sau:

Mục tiêu tổng quát của Đại hội

Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Các chỉ tiêu quan trọng:

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 – 7%/năm. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 – 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 – 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 – 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 – 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt 38 – 40%.
Về xã hội: Đến năm 2020, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 – 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 – 1,5%/năm.
Về môi trường: Đến năm 2020, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 – 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

Các nhiệm vụ trọng tâm:

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế – xã hội, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm sau:

(1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

(4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

(6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

2. Từ những nội dung được nghiên cứu và quán triệt trên cương vị công tác của bản thân mình tôi nhận thấy:

Chấp hành tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật Nhà Nước thực hiện tốt pháp lệnh cán bộ, công chức, nội quy và quy chế làm việc cơ quan.

Trong công tác hàng ngày luôn khắc phục khó khăn, đoàn kết tương trợ đồng nghiệp để hoàn thành tốt công việc được giao. Thực hiện tốt quy chế dân chủ, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực quan lieu, tham nhũng…

Thường xuyên học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, trao đổi chuyên môn với đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu, dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn để đạt hiệu quả cao hơn trong công tác. Luôn không ngừng học hỏi để có thể thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục. Cố gắng phấn đấu trau dồi chuyên môn để có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của học sinh theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của học sinh trong hoạt động nhận thức.

+ Trong thời gian tới bản thân mình phải trau dồi đạo đức, lối sống, thực hiện tốt chính sách của nhà nước và pháp luật. Tiếp tục học tập nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu của xã hội, là tấm gương cho sinh viên noi theo. Để thực hiện mục tiêu hội nhập quốc tế bản thân tôi xác định phải đầu tư học tập ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu dạy học song ngữ trong nhà trường. Đối với bộ môn trực tiếp quản lý, chủ động tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề nâng cao chất lượng dạy và học.

+ Việc nghiên cứu khoa học được chú trọng đảm bảo mỗi năm học có ít nhất 1 đề tài hoặc bài báo được đăng trên tạp chí.

+ Việc rèn nghề cho sinh viên được tiến hành ngay từ năm thứ hai, bản thân trực tiếp học hỏi liên hệ giáo viên phổ thông, sưu tầm nhiều tư liệu về NVSP để hướng dẫn việc rèn NVSP cho sinh viên, tạo cho sinh viên tâm thế kiến thức vững chắc khi đi thực tập sư phạm.

+ Trong công tác chủ nhiệm: quan tâm động viên sinh viên tự hào về ngôi trường đang học, khích lệ phát huy tính tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của các em sinh viên, thành lập các câu lạc bộ Toán học, Vật lí trong Khoa là cơ hội cho các em sinh viên trao đổi kiến thức, phát triển mình, hoàn thiện bản thân, hoàn thiện nhân cách sống, đáp ứng yêu cầu của xã hội.

+ Trong các buổi sinh hoạt lớp chú trọng tuyên truyền về truyền thống nhà trường, quê hương đất nước, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, để mỗi học sinh khi ra trường có thể có chỗ đứng trong xã hội, khẳng định thương hiệu của nhà trường.

3. Những đề xuất kiến nghị về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp để tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng tại đơn vị trong thời gian tới:

Đảng lãnh đạo tập thể quản lí đề ra phương hướng mục tiêu rõ rệt, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân. Không ngừng tăng cường đoàn kết phát huy dân chủ luôn giữ vững chính trị, đoàn kết thống nhất trong Đảng, chung sức chiến đấu học tập trong phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững.

Đồng thời Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu nắm bắt thời cơ vượt qua những khó khăn thử thách để đi lên thành công, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về văn hóa xã hội tạo ra những chuyển biến trong công tác giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin vào trong công tác giảng dạy.

Tạo ra bước tiến rõ rệt trong đời sống nhân dân, cân bằng đời sống của người dân trong xã hội. Giảm tỉ lệ hộ nghèo, nâng cao trình độ dân trí, tăng cường chăm sóc sức khỏe, giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc.

Tăng cường quốc phòng an ninh chính trị trong nước, ngăn chặn làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Xây dựng hệ thống chính trị xã hội, tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” nâng cao trình độ năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Làm tốt công tác xây dựng Đảng về tổ chức, chính trị tư tưởng suốt đời trung thành với Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh.

Về giáo dục các cấp ban ngành cần chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường. Các cấp lãnh đạo cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của đội ngũ giáo viên, đồng thời cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm học sinh, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới phương pháp dạy học ngày càng rộng rãi, thường xuyên và có hiệu quả hơn.

Hãy phấn đấu để trong mỗi tiết học ở các trường, người học được hoạt động nhiều hơn, thực hành nhiều hơn, thảo luận nhiều hơn và quan trọng là được suy nghĩ nhiều hơn trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập.

Cần tiếp tục củng cố đội ngũ cán bộ có đủ năng lực và uy tín để hoàn thành công việc.

Tiếp tục cử giảng viên và sinh viên tham gia các diễn đàn trong khu vực: Giao lưu trung bắc, Thi Olimpic cấp quốc gia, tham gia viết bài các hội thảo để khẳng định vị thế của nhà trường.

Liên hệ mời giáo viên trung học phổ thông có kinh nghiệm trực tiếp giảng dạy học phần tập giảng cho sinh viên sư phạm năm thứ 4.

Cũng cố, kiện toàn các cán bộ đoàn từ cấp Liên chi tới cấp chi đoàn, cán bộ lớp đủ năng lực để động viên, khích lệ các sinh viên tích cực tự học, tự rèn luyện NVSP, các kĩ năng sống đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội.
Tổ chức nhiều các hoạt động rèn luyện kĩ năng sống, đạo đức xã hội cho sinh viên.

…………, ngày….tháng….năm….
Người làm bài thu thoạch